Thời hiệu khởi kiện tranh chấp đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai mới nhất
Thời hiệu khởi kiện tranh chấp đất đai là vấn đề mà hầu hết những cá nhân, tổ chức liên quan đều quan tâm khi nhắc đến tranh chấp đất đai. Pháp luật Việt Nam có đa dạng loại luật, mỗi loại luật lại quy định về thời hiệu khác nhau. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể nắm rõ được tất cả. Việc không nắm chắc quy định của pháp luật về thời hiệu giải quyết tranh chấp đất đai sẽ rất khó để bảo vệ quyền và lợi ích của mình Vì vậy, bài viết dưới đây Tổng đài pháp luật sẽ phân tích cho bạn về vấn đề này. Mời quý độc giả cùng đón xem!
Thông tin chung về thời hiệu khởi kiện tranh chấp đất đai
Anh Võ Văn Đức (Quảng Ngãi) có câu hỏi:
“Chào luật sư của Tổng đài pháp luật, tôi là Đức. Hiện tại, gia đình tôi và hàng xóm có đang tranh chấp với nhau một thửa đất đã nhiều năm nay thời gian xảy ra tranh chấp là vào những năm 2010. Luật sư cho tôi hỏi thời hiệu khởi kiện tranh chấp đất đai là bao lâu theo quy định của pháp luật?
Tôi muốn rõ hơn về thời hiệu giải quyết tranh chấp đất đai. Bởi tôi sợ nếu thời hiệu tranh chấp đất đai diễn ra quá lâu sẽ dẫn tới tình trạng bố mẹ tôi lo âu nhiều hoặc, người hàng xóm có thể sẽ tấn công chúng tôi bất cứ lúc nào. Mong luật sư có thể hồi âm sớm nhất có thể. Tôi xin chân thành cảm ơn luật sư!”

Tư vấn thời hiệu khởi kiện tranh chấp đất đai. Gọi ngay 1900.633.705
Luật sư xin trả lời:
Xin chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về Tổng đài pháp luật. Với câu chuyện của bạn, chúng tôi cũng rất đồng cảm và xin được trả lời bạn như sau:
Thời hiệu khởi kiện tranh chấp đất đai thế nào?
Trước khi, xác định thời hiệu khởi kiện tranh chấp đất đai, đầu tiên ta phải hiểu thế nào là tranh chấp đất đai. Theo quy định tại khoản 2 điều 3 Nghị quyết 04/2017 NQ-HĐTP và khoản 24 điều 3 Luật đất đai 2013 có nêu như sau:
“2. Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,… thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án”
“24. Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.”
Do vậy tranh chấp đất đai là loại chăm sóc tranh chấp xác định Ai là người có quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, đối với một số trường hợp tranh chấp liên quan đến đất đai, tức là thường những trường hợp đó sẽ tranh chấp về giao dịch quyền sử dụng đất, nhà ở, tranh chấp về di sản thừa kế là quyền sử dụng đất, tranh chấp tài sản chung là quyền sử dụng đất giữa vợ và chồng khi ly hôn…
Theo quy định tại điểm khoản 1, 2 điều 23 Nghị Quyết 03/2012 NQ-HĐTP về thời hiệu khởi kiện tranh chấp đất đai như sau:
“1. Đối với tranh chấp dân sự mà văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thời hiệu khởi kiện thì áp dụng thời hiệu khởi kiện được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật đó.
Ví dụ 1: Đối với tranh chấp về hợp đồng kinh doanh bảo hiểm thì theo quy định tại Điều 30 của Luật Kinh doanh bảo hiểm, thời hiệu khởi kiện về hợp đồng bảo hiểm là ba năm, kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp;
Ví dụ 2: Đối với các tranh chấp lao động cá nhân thì theo quy định tại khoản 2 Điều 202 của Bộ luật lao động, thời hiệu khởi kiện về tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm
Ví dụ 3: Đối với tranh chấp về chia di sản thừa kế, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác thì theo quy định tại Điều 645 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
2. Đối với các tranh chấp dân sự sau đây thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện:
a) Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là tranh chấp ai có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó;
Ví dụ: Tranh chấp ai có quyền sở hữu nhà ở; nếu có khởi kiện thì Tòa án thụ lý vụ án; việc chấp nhận hay không phải căn cứ vào các quy định của pháp luật.
b) Tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu là tranh chấp về tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của mình nhưng do người khác quản lý, chiếm hữu tài sản đó;
Ví dụ: Ngôi nhà thuộc quyền sở hữu của A nhưng do B đang quản lý; A có tài liệu chứng minh ngôi nhà thuộc quyền sở hữu của A và khởi kiện đòi nhà thì Tòa án thụ lý; việc chấp nhận hay không phải căn cứ vào các quy định của pháp luật.
c) Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai là tranh chấp ai có quyền sử dụng đất đó.”
Do đó tòa án sẽ không quy định về thời hiệu khởi kiện Tranh chấp đất đai cũng như thời hiệu giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai qua đó đó là điều này cũng được quy định tại điều 155 bộ luật dân sự 2015 như sau:
“Điều 155. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện
Thời hiệu khởi kiện không áp dụng trong trường hợp sau đây:
1. Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản.
2. Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
3. Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
4. Trường hợp khác do luật quy định.”

Thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp liên quan đến đất đai
Có rất nhiều loại tranh chấp liên quan đến đất đai biết thế với mỗi loại tranh chấp thì pháp luật lại quy định thời hiệu khởi kiện tranh chấp đất đai là khác nhau dưới đây là một số tranh chấp liên quan đến Luật Đất đai điển hỉnh:
Tranh chấp liên quan đến giao dịch bất động sản:
Theo khoản 3 điều 23 Nghị Quyết 03/2012 NQ-HĐTP, với những tranh chấp liên quan đến giao dịch như: thuê nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê lại nhà có quy định như sau:
“3. Đối với tranh chấp dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự (hợp đồng vay tài sản, hợp đồng gửi giữ tài sản, thuê tài sản, thuê khoán tài sản, hợp đồng gia công, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất), thì giải quyết như sau:
a) Đối với tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự thì áp dụng thời hiệu quy định trong văn bản quy phạm pháp luật tương ứng đối với loại giao dịch đó.
Ví dụ: Tranh chấp về hợp đồng thuê nhà thì thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng cho thuê tài sản được xác định theo quy định tại Điều 427 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện là 02 năm.
b) Đối với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, về đòi lại tài sản, đòi lại quyền sử dụng đất do người khác quản lý, chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Ví dụ 1: Ngày 01-01-2008, A cho B vay 500 triệu đồng, thời hạn vay là 1 năm. Đến ngày 01-01-2009, B không trả tiền gốc và tiền lãi. Đến ngày 03-4-2011, A khởi kiện yêu cầu buộc B trả lại khoản tiền gốc và tiền lãi. Đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi thì Tòa án không giải quyết vì đã hết thời hiệu khởi kiện. Đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền gốc thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện, Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục chung.
Ví dụ 2: Trường hợp người cho thuê tài sản mà có tranh chấp về hợp đồng thuê tài sản thì thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng cho thuê tài sản được xác định theo quy định tại Điều 427 của Bộ luật dân sự năm 2005. Đối với tranh chấp về đòi lại tài sản cho thuê do người khác đang quản lý, chiếm hữu thì căn cứ hướng dẫn tại điểm a khoản 3 Điều 159 của BLTTDS và điểm b khoản 3 của Điều này không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Ví dụ 3: Đối với tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ mà có tranh chấp về việc ai có quyền sở hữu đối với quyền sở hữu trí tuệ đó thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Nếu tranh chấp các giao dịch về quyền sở hữu trí tuệ thì áp dụng thời hiệu tương ứng đối với giao dịch quyền sở hữu trí tuệ đó.”
Theo đó thì đối với tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự sẽ được tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật tương ứng với loại giao dịch đó:
Ví dụ như tranh chấp về hợp đồng thuê nhà thì thời hiệu khởi kiện tranh chấp đất đai là 35 năm kể từ từ ngày ngày mày biết quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.
Còn đối với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản đòi lại quyền sử dụng đất do người khác quản lý thì không áp dụng thời hiệu giải quyết tranh chấp đất đai.
Đối với tranh chấp đất đai được căn cứ tại khoản 1 Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
“Điều 642. Di chúc bị thất lạc, hư hại
1. Kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu bản di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật.”
Như vậy, thời hiệu tranh chấp đất đai để người thừa kế yêu cầu phân chia tài sản là 30 năm tính từ thời điểm mở thừa kế.
Tuy nhiên, theo quy định tại điểm a.3 tiểu mục 2.4 mục 2 phần I Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP như sau:
“a.3) Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.”
Do đó, nếu đáp ứng một trong những điều kiện sau đây, Tòa án sẽ không áp dụng thời hiệu khởi kiện tranh chấp đất đai như sau:
Trong thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế, các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản xác nhận là đồng thừa kế.
Các đồng thừa kế không có bất cứ tranh chấp nào về hàng thừa kế sau thời hạn 10 năm kể từ ngày mở thừa kế.
Do thông tin của bạn đưa ra không đủ dữ kiện để chúng tôi có thể kết luận đây là đất nhà bạn hay là đất thuê, hoặc là đất do nhà nước sở hữu để chúng tôi có thể kết luận được câu trả lời rõ nhất cho bạn. Bạn có thể liên hệ ngay tới tổng đài 1900.663.705 để được tư vấn chi tiết về thời hiệu khởi kiện tranh chấp đất đai mới nhất.
Nhận xét
Đăng nhận xét