Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại đất đai của Tòa án

 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai thuộc về cơ quan nào luôn là một trong những câu hỏi được quan tâm nhiều nhất khi xảy ra tranh chấp đất đai. Mỗi địa phương, huyện, tỉnh đều có một cơ quan khác nhau có thẩm quyền giải quyết những vụ việc liên quan đến tranh chấp, khiếu nại đất đai. Vì vậy, bài viết dưới đây luật sư của Tổng đài pháp luật sẽ giải đáp tất cả những thắc mắc của quý độc giả. Kính mời bạn đón xem!

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của cá nhân?

 

Anh Hải Đăng (Hải Phòng) có câu hỏi:

Chào luật sư, tôi là Đăng. Ba năm trước vợ chồng tôi có mua một mảnh đất và xây nhà để tặng cho con trai và con dâu của tôi nhân ngày kỷ niệm hai cháu kết hôn. Tuy nhiên, sau khi được mua đất xây nhà thì cả hai con đều có thái độ không đúng mực “phận làm con” với ba mẹ.

Vì vậy, tôi và vợ tôi đã quyết định đòi lại đất mà chúng tôi đã tặng cho con trai và con dâu. Luật sư cho tôi hỏi: cơ quan nào sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai trong vụ việc của gia đình nhà tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn luật sư!

 

>>Quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của cá nhân, gọi ngay 1900.633.705

Luật sư xin trả lời:

Xin chào ông bà, cảm ơn ông bà đã gửi câu hỏi về Tổng đài pháp luật. Với câu chuyện của ông bà, chúng tôi xin được trả lời như sau:

Theo Điều 202 Luật đất đai năm 2013 quy định về hòa giải tranh chấp đất đai như sau:

“1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.”

 

thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

 

Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai được quy định tại Điều 203 Luật đất đai năm 2013 như sau:

“1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.”

Trong trường hợp này được quy định tại khoản 1 Điều 203 Luật đất đai 2013, vụ việc của ông bà, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai sẽ thuộc về Tòa án nhân dân. Vì ông bà có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có hợp đồng cho tặng quyền sử dụng đất.

Đồng thời, theo điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

“c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.”

Như vậy, với trường hợp của ông bà, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai sẽ do tổ hòa giải thuộc cấp, phường, xã, Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có nhà đất của ông bà giải quyết.

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo pháp luật?

 

Chị Kiều Vy (Ba Vì Hà Nội) có câu hỏi:

Chào luật sư của Tổng đài pháp luật, tháu là Vy. Hiện tại, bố mẹ tôi đang cãi nhau về việc tranh chấp đất đai. Cháu muốn hỏi là trước đây bố mẹ tôi có đứng ra mua một mảnh đất. Tuy nhiên, vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mới gần đây, bà A xưng là bạn của bố cháu cầm giấy mua bán nhà đất chính và đòi chuyển sang nhà tôi để ở.

Điều này thì mẹ con tôi đều không biết. Tuy nhiên, bà A cho biết rằng bố tôi đã bán nhà cho bà. Khoảng thời gian trước, mẹ và tôi chỉ được biết là bố tôi có báo làm mất giấy tờ. Tuy nhiên cũng không nói là bán đất cho ai. Với trường hợp này, tôi và mẹ tôi muốn khiếu nại đất đai, gia đình tôi phải giải quyết như thế nào? Tôi xin chân thành cảm ơn luật sư.

 

>> Quy định mới nhất về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo pháp luật, gọi ngay 1900.633.705

Luật sư xin trả lời:

Xin chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về Tổng đài pháp luật. Với câu chuyện của bạn, chúng tôi xin được trả lời như sau:

Như thông tin bạn cung cấp cho luật sư thì bố mẹ bạn cùng đứng ra mua đất. Tuy nhiên, lại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, có thể hiểu, đây là tài sản chung giữa bố mẹ bạn. Nếu như bố bạn muốn bán đất thì phải có sự đồng ý của mẹ bạn và bố bạn không có quyền tự ý quyết định bán đất.

Với trường hợp này, bạn và mẹ bạn cần phải xác minh rõ hợp đồng bán đất của bố bạn và bà A được ký từ khi nào? Liệu hợp đồng đó có hợp pháp hay không? Và nếu chỉ một mình bố bạn bán đất mà không có sự đồng ý của mẹ bạn thì giấy tờ bán đất coi như không hợp pháp.

 

thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

 

Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định điều 203 Luật đất đai 2013 như sau:

“Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.”

Do đó, để bảo vệ quyền lợi và lợi ích cho bạn và mẹ bạn , cũng như gia đình của bạn thì bạn và mẹ bạn nên làm đơn trình lên Ủy ban nhân dân cấp xã để ở được giải quyết. Trong trường hợp, Ủy ban nhân dân xã không giải quyết hoặc giải quyết không thỏa đáng hoặc không đảm bảo được quyền lợi cho gia đình bạn thì bạn có thể làm đơn khởi kiện tới Tòa án nhân dân cấp huyện để được giải quyết.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tư vấn luật đất đai tại văn phòng tư vấn hay thuê luật sư đất đai?

Tranh chấp đất đai là gì? Thực trạng, xử lý tình huống tranh chấp quyền sử dụng đất

Chuyển nhượng quyền sử dụng đất là gì? Điều kiện, các bước thực hiện